[Tăng Khen Tăng] Nếu Muốn Phật Pháp Hưng - Chỉ Tăng Tán Thán Tăng

[Tăng Khen Tăng] Nếu Muốn Phật Pháp Hưng - Chỉ Tăng Tán Thán Tăng - Hòa Thượng Tịnh Không

Người đăng: admin | Lượt nghe: 281
"NẾU MUỐN PHẬT PHÁP HƯNG - CHỈ TĂNG TÁN THÁN TĂNG"
bấm vào link tải file PDF và MP3 https://sachphat.net/tang-khen-tang  

Playlist: https://www.youtube.com/watch?v=Fp788...

Ý NGHĨA BÌA SÁCH NẾU MUỐN PHẬT PHÁP HƯNG, CHỈ TĂNG TÁN THÁN TĂNG
Tiểu Sa Di của Phật giáo Nam truyền, tự viện của Phật giáo Hán truyền, tháp Phật của Phật giáo Tạng truyền trên bìa sách có ngụ ý là ba ngữ hệ lớn trên thế giới đều là pháp mạch thanh tịnh của Thích Ca Thế Tôn truyền lại. Tuy rằng hình thức có khác biệt, nhưng đều là diệu dược cam lồ chỉ dẫn chúng sanh đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, thoát khỏi sanh tử, hướng đến giải thoát. Các tông các phái trong Phật giáo, tôn trọng
và tán thán lẫn nhau, học tập và giao lưu với nhau, mới có thể làm cho chánh
pháp trụ thế lâu dài, Phật giáo hưng thịnh. Tinh thần bình đẳng viên dung,
hòa hợp vô tranh này là việc chủ yếu làm cho thế giới hòa bình, hóa giải xung đột,
cũng chính là tông chỉ căn bản mà quyển sách này đưa ra.

Trích từ lời HT Hải Hiền 
"Lão Hòa thượng Hải Hiền đã nhiều lần cầu xin A Di Đà Phật tiếp dẫn Ngài vãng sanh, A Di Đà Phật nói Ngài tu hành rất tốt, kêu Ngài ở lại thế gian này biểu pháp, khi thời gian đến, nhất định đến rước Ngài. Vậy thời gian đó là khi nào? Đợi khi Ngài gặp được quyển sách có tên “Nếu muốn Phật Pháp hưng, duy chỉ có Tăng khen Tăng” này, thời khắc nhân duyên biểu pháp của Ngài viên mãn rồi, thì Phật đến tiếp dẫn.

Quyển sách “Nếu muốn Phật Pháp hưng, duy chỉ có Tăng khen Tăng” này là Pháp sư Hoằng Lâm dùng thời gian mười mấy năm thu thập rất nhiều tư liệu để biên tập thành, trong đó trả lời những nghi vấn của những người chất vấn đối với bản hội tập “Kinh Vô Lượng Thọ” của cư sĩ Hạ Liên Cư. Hiện tại trong và ngoài nước, có rất nhiều người phản đối quyển hội tập này của cư sĩ Hạ Liên Cư, họ cho rằng kinh Phật không thể hội tập. Tư liệu của Pháp sư Hoằng Lâm thu thập chứng tỏ, cách làm hội tập kinh Phật này lúc xưa đã có, lúc đó gọi là hợp kinh. Vì vậy bản hội tập này như lý như pháp, sự xuất hiện của quyển này là cần thiết cho thời đại.

Lão Hòa thượng Hải Hiền ở lại thế gian, chính là vì biểu pháp cuối cùng này. Tất nhiên, cả đời Ngài đều đang biểu pháp, nhưng mà trong đó quan trọng nhất, chính là lần cuối cùng. Đến lúc này, công đức biểu pháp của Ngài viên mãn, A Di Đà Phật tiếp dẫn Ngày vãng sanh Tây Phương rồi.

Biểu pháp này có ý nghĩa gì vậy? Thứ nhất, chứng minh bản hội tập “Kinh Vô Lượng Thọ” của cư sĩ Hạ Liên Cư là chân kinh. Bản hội tập “Kinh Vô Lượng Thọ” đã có từ sớm rồi, nhưng đều có sai sót, bản hội tập này không có sai sót, từng câu từng chữ đều là nguyên văn từ kinh điển. Thứ hai, xác minh chú giải của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ với bản hội tập này là thật sự đáng tin, là chú giải hoàn hảo nhất trong các chú giải “Kinh Vô Lượng Thọ”. Đây là tập chú, là tập kinh, luận và chú giải cổ đức mà thành, thật sự là chánh tri chánh kiến. Thứ ba, vì Pháp sư Tịnh Không đã chứng minh, chứng minh mười mấy năm Ngài y theo bộ kinh và chú giải này để tu hành, không sai.

Đây là sứ mạng A Di Đà Phật giao cho lão Hòa thượng Hải Hiền, để cuối cùng Ngài biểu pháp này! Cái nhiệm vụ này rất lớn, công đức bất khả tư nghì, nó liên quan đến pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật mạt pháp chín ngàn năm, vào lúc này lão Hòa thượng Hải Hiền đảm nhận trọng trách. Thế Tôn mạt pháp chín ngàn năm, tất cả chúng sanh học Phật có thể một đời thành tựu, chính là nhờ vào Pháp môn này.

Kinh Vô Lượng Thọ nói: “Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bách tuế”. “Đương lai” là thời gian chung cuộc sau này của Thích Ca Mâu Ni Phật một ngàn năm mạt pháp. Lúc đó, tất cả kinh điển trên thế gian đều biến mất, nhưng mà Thế Tôn từ bi, đặc biệt lưu lại bộ kinh này, lưu thêm một trăm năm, lưu lại quyển sách nào vậy? Pháp sư Tịnh Không nói với chúng ta: “Chính là bản ‘Kinh Vô Lượng Thọ’ của lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập”. Ngài còn nói, “bản hội tập và tập chú của Niệm Lão, khẳng định là sau Thích Ca Mâu Ni Phật mạt pháp chín ngàn năm, Pháp môn đệ nhất mà chúng sanh được độ”. “Mạt pháp chín ngàn năm, thật sự thành tựu toàn nhờ vào Pháp môn này, những Pháp môn khác không làm được”.

Tăng khen Tăng, đây là việc lớn trong nhà Phật, hưng suy của Phật pháp chính là ở thế hệ này. Người Trung Quốc thường nói gia hòa vạn sự hưng, người một nhà hòa thuận, nhà này nhất định sẽ hưng vượng, đoàn thể, tăng đoàn cũng vậy. Nếu như mọi người đều có thể hòa thuận với nhau, thì Phật pháp sẽ hưng vượng; nếu như bài xích lẫn nhau, khen mình chê người, Phật pháp sẽ tiêu vong. Vì vậy, nếu muốn Phật Pháp hưng, duy chỉ có Tăng khen Tăng!

Trích từ sách : Sách Cuộc Đời Và Đạo Nghiệp Lão Hòa Thượng Hải Hiền – Dịch giả: DIỆU ÂM
A Di Đà Phật . Nếu Pháp Âm không nghe được xin báo cáo lỗi giúp chúng con! Thay mặt BQT chúng con xin trân trọng cảm ơn. A Di Đà Phật
Link Album:
Chèn blog:
Forum:

 Báo lỗi: Để giúp chúng tôi quản lý tốt hơn chất lượng các Pháp Âm bạn hãy gửi ngay thông tin khi gặp vấn đề nào đó về Pháp Âm hoặc album này

Nhập tên bạn:
Nếu không phải một trong các nguyên nhân trên bạn vui lòng nhập nguyên nhân vào ô dưới đây.
Hòa Thượng Tịnh Không

Hòa Thượng Tịnh Không

Hoa Thuong Tinh Khong 0010

Thích Tịnh Không (淨空; pinyinJìngkōng sinh vào tháng 2 năm 1927), tục danh Từ Nghiệp Hồng (徐業鴻), pháp danh Giác Tịnh (覺淨), tự Tịnh Không (淨空), người trấn Dịch Trì huyện Lư Giang thuộc tỉnh An Huy, hoằng dương Pháp môn Tịnh Độ, đến nay giảng kinh đã hơn 60 năm. Hòa thượng tiên phong trong việc áp dụng kĩ thuật truyền thông đa phương tiện Internet để phổ cập Phật học với trọng tâm là pháp môn Tịnh Độ. Các bài giảng của Hòa thượng có thể tìm thấy phổ biến trên youtube bằng nhiều thứ tiếng khác nhau[1][2].

Hoà Thượng Tịnh Không chuyên giảng Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh 《佛說大乘無量壽莊嚴清淨平等覺經》do cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập thành công năm bản dịch Vô Lượng Thọ Kinh 《無量壽經》của 5 triều đại Trung Hoa. Hoà thượng nhấn mạnh rằng Phật giáo là Giáo dục của Phật Đà dựa vào trí tuệ và từ bi để thành đạo, chứ không phải là tôn giáo mê tín dị đoan.

Cuộc đời

Pháp sư tục danh Từ Nghiệp Hồng, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1927 nông lịch, người huyện Lư Giang, trấn Kim Ngưu, tỉnh An Huy vào thời Trung Hoa Dân Quốc, ba tuổi di cư đến làng Thuận Cảng, sống ở Thuận Cảng được bảy năm. Thuở còn nhỏ có từng trú ở Kiến Âu (nay là Phúc Kiến).

Sách

Hoà Thượng Tịnh Không (Chin Kung) là tác giả của những quyển sách sau:[3]

  • The Art of Living (Tạm dịch: Nghệ thuật sống)
  • Buddhism as an Education (Tạm dịch: Phật giáo là một nền giáo dục)
  • Buddhism: The Awakening of Compassion and Wisdom (Tạm dịch: Phật giáo: Sự thức tỉnh của từ bi và trí tuệ)
  • The Collected Works of Master Chin Kung (Tạm dịch: Pháp Ngữ của Hoà Thượng Tịnh Không)
  • Path to True Happiness (Tạm dịch: Con đường đến hạnh phúc chân thực)
  • To Understand Buddhism (Tạm dịch: Để thấu hiếu Phật giáo)
                                                                                Hòa Thượng Tịnh Không
Thượng Nhân thượng Tịnh hạ Không, tục danh là Từ Nghiệp Hồng, sinh năm 1927 tại huyện Lư Giang, tỉnh An Huy, nhưng lúc nhỏ sống tại huyện Kiến Ngõa tỉnh Phước Kiến. Năm 1949, Sư đến Ðài Loan, dạy học tại Thực Tiễn Học Xã. Ngoài việc giảng dạy, Sư gia tâm nghiên cứu kinh sử, cổ văn.
Ðể mở rộng tầm kiến văn, trong suốt 13 năm Sư đã theo học với các bậc danh sĩ thạc học thời đó là các vị Phương Ðông Mỹ, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam v.v… Ngoài ra, Sư còn theo học Mật Giáo Tây Tạng với Chương Gia Ðại Sư (1). Tuy thế, vị thầy Sư kính phục nhất và học hỏi được nhiều nhất vẫn là lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Sư nể phục cụ Lý sâu xa đến nỗi hầu như bất cứ khi nào giảng pháp, dù bất cứ đề tài nào, Sư đều nhắc đến Lý lão cư sĩ với lòng biết ơn vô hạn. Dưới sự giảng dạy, dìu dắt của những vị trên, Sư thấu hiểu sâu xa, thâm nhập kinh điển Phật học.
Năm 1959, vào năm 32 tuổi, Sư thế phát xuất gia tại chùa Lâm Tế thuộc Viên Sơn, thành phố Ðài Bắc, pháp danh là Tịnh Giác, pháp tự là Tịnh Không. Sau khi thọ Cụ Túc Giới, Sư tích cực hoằng dương Phật pháp cả trong nước lẫn hải ngoại. Ðề tài giảng thuật của Sư rất phong phú: Trong suốt 30 năm, chưa hề gián đoạn lúc nào, Sư liên tục giảng rộng đến mấy mươi loại kinh, luận Ðại Thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Kim Cang, Lăng Nghiêm, Viên Giác, Lục Tổ Ðàn Kinh; nhưng kinh Sư tâm đắc nhất là Tịnh Ðộ Ngũ Kinh (A Di Ðà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, chương Ðại Thế Chí Niệm Phật của kinh Lăng Nghiêm và phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện).
Sư học rộng, hiểu nhiều, thâm nhập Kinh Tạng, hiểu rõ Thiền lẫn Mật, nhưng lại chuyên chú nơi Tịnh Nghiệp. Sư chủ trương đại chúng học kinh điển để lãnh hội sâu rộng Phật pháp, nhưng hạnh phải chuyên nhất. Vì thế, đạo tràng Tịnh Ðộ các nơi của Sư sớm tối chỉ tụng kinh Di Ðà hoặc kinh Vô Lượng Thọ. Mỗi tháng đều cử hành Phật thất nghiêm nhặt. Các đạo tràng không làm gì khác ngoài việc chuyên trì hồng danh, hoằng dương Tịnh Ðộ. Các pháp hội mang tính chất cầu an, giải hạn, hay thiền thất tuyệt nhiên chẳng cử hành. Sư tuân thủ triệt để đường lối chuyên tu của Tổ Ấn Quang: nhất tâm trì danh, vạn thiện đều hồi hướng trang nghiêm Tịnh Ðộ.
Sư chủ trương Phật giáo lẽ ra phải gọi đúng là Phật Ðà Giáo Dục, nghĩa là: những pháp môn Phật dạy ra là những phương cách thực tiễn nhằm triệt để bài trừ mê tín, khai phát chân trí giúp người học hiểu rõ chân, vọng, tà, chánh, thị phi, thiện ác lợi hại, ngõ hầu kiến lập lý trí, vun bồi một nhân sinh quan, vũ trụ quan từ bi tế thế đầy lạc quan, tích cực thì mới có thể thực hiện được bản hoài “giải quyết mọi sự khổ nạn của hết thảy chúng sinh, đạt được hạnh phúc chân thực vĩnh hằng” của chư Phật.
Thượng Nhân cũng là người đầu tiên áp dụng các phương tiện tân tiến để hoằng pháp tại Ðài Loan. Tổ chức Phật Ðà Giáo Dục Cơ Kim Hội do Sư lãnh đạo phát hành nhiều loại băng giảng ghi âm, ghi hình, đĩa CD đủ mọi thể loại để biếu không cho tất cả những ai cần đến. Ngoài việc ấn tống, tặng thí những tác phẩm chuyên dạy về Tịnh Ðộ của chư Tổ và các bậc danh đức xuất gia lẫn tục gia, Sư còn hỗ trợ việc ấn tống những sách khuyên làm lành lánh dữ được Tổ Ấn Quang đặc biệt đề cao như Thái Thượng Cảm Ứng, Thọ Khang Bảo Giám, An Sĩ Toàn Thư v.v… Không những chỉ ấn tống những kinh điển dành cho người Hoa, tổ chức Tịnh Tông Học Hội của Ðại Sư luôn tùy hỷ góp phần ấn tặng những dịch phẩm giá trị của các giáo hội Phật Giáo nước khác. Ðiển hình là Tịnh Tông Học Hội đã trùng ấn cuốn Niệm Phật Thập Yếu của Hòa Thượng Thiền Tâm lên đến 10.000 cuốn; các dịch phẩm khác như Hồng Danh Lễ Sám do Hòa Thượng Huyền Vi dịch, Lễ Hồng Danh Chư Phật do Hòa Thượng Chánh Lạc dịch đều được hội hỗ trợ ấn tống với số lượng lớn.
Hội còn phiên dịch các tác phẩm Phật Học giá trị sang nhiều thứ tiếng như tiếng Hindi, Punjabi, Anh Ngữ, Tây Tạng để những người không đọc được tiếng Hoa đều có thể tìm đọc. Ngoài ra, Tịnh Tông Học Hội còn tặng không rất nhiều hình Phật A Di Ðà, hình Tây Phương Tam Thánh, các bức tượng Ðịa Tạng cũng như các máy niệm Phật, băng niệm Phật… Chỗ nào có trụ sở Tịnh Tông Học Hội của ngài là chỗ đó có ấn tặng kinh sách miễn phí, có đạo tràng chuyên tu Tịnh Nghiệp.
Có thể nói, so trong các đạo tràng nổi tiếng của Ðài Loan hiện tại, đạo tràng Tịnh Ðộ của Ðại Sư góp phần rất lớn trong việc hoằng dương, phổ cập Phật pháp. Khi giảng pháp, Ðại Sư dùng những lời lẽ đơn giản, dễ hiểu, chú trọng những ý chính để người học dễ lãnh hội và vận dụng trong cuộc sống. Sư chống tích trượng đến đâu là trước sau nơi đó cũng sẽ có một đạo tràng chuyên tu Tịnh Ðộ được thành lập. Tuy được coi là bậc Thái Sơn Bắc Ðẩu trong Phật Giáo Ðài Loan hiện tại, lúc nào Sư cũng khiêm cung, điềm đạm. Trong các bài giảng pháp, khi mở đầu Sư luôn xin phép vị Tăng trụ trì trung tâm và chỉ xưng là “học nhân”, không bao giờ tự xưng là “lão tăng” hay “sư phụ” chi cả!
Khác với các đạo tràng của những giáo hội khác như Phật Quang Sơn, Pháp Cổ…, đạo tràng của Ðại Sư không trần thiết hoa mỹ, cầu kỳ, mà mang nặng tính thiết thực, thuận tiện cho tứ chúng vân tập niệm Phật cộng tu. Các tự viện không được phép kinh doanh dù chỉ là bán các pháp khí, kinh sách. Các tăng ni thường trú tại các tự viện thuộc hệ thống Tịnh Tông Học Hội chỉ lo hướng dẫn đại chúng tu tập, mọi việc quản trị đã có ban hộ tự lo liệu. Ða số các tăng sĩ thuộc hệ thống Tịnh Tông Học Hội đều được đào tạo kỹ lưỡng. Các vị Pháp Sư đều khiêm tốn, đạm bạc, khắc kỷ, giữ gìn giới luật, chăm tu Tịnh nghiệp, phong thái nhàn tản, ung dung. Những ai tìm đến đạo tràng ngài nếu không thật tâm tu học sẽ chán nản, bỏ cuộc vì ngoài thời khóa Tịnh Ðộ sớm tối, không hề có bất cứ một hình thức pháp hội nhương tai, giải hạn, lễ sám nào khác. Ðiều đặc biệt là trong khi phần lớn các tự viện Việt Nam tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc vẫn chưa thể bỏ được hình thức xin xăm, cúng sao giải hạn, các đạo tràng Tịnh Ðộ của Thượng Nhân Tịnh Không tuyệt nhiên không hề có một hình thức mê tín, bói toán, cầu cạnh nào. Dù là Tết Nguyên Ðán hay ngày Vu Lan, Rằm tháng Giêng, rằm tháng Mười, tứ chúng vẫn vân tập niệm Phật cộng tu như thường lệ, không bao giờ có cảnh lao xao tranh nhau đốt hương mù mịt, bỏ tiền thắp tục mạng đăng, chất ngập bàn thờ với hoa quả, phẩm vật như thường thấy tại các chùa người Hoa khác.
Ðể đào tạo tầng lớp giảng sư có đủ trình độ hoằng dương Phật pháp, Sư đã thành lập những ban bồi dưỡng công tác giảng huấn tại các trung tâm lớn như trung tâm Tịnh Tông tại Los Angeles, Singapore…. Dù tuổi tác đã cao, đã ngoài 76 tuổi, Sư vẫn tích cực hoằng pháp, rất minh mẫn. Ngưỡng mong Thượng Nhân thượng Tịnh hạ Không rủ lòng lân mẫn trụ thế dài lâu để hàng hành nhân sơ cơ như chúng con luôn có chỗ quy hướng, nương tựa.
*******
Chú giải:
(1) Chương Gia Ðại Sư: Gọi đủ là Chương Gia Hô Ðồ Khắc Ðồ (Canskya Hutukhtu), có nghĩa là bậc thánh ở vùng Chương Gia. Sư còn được gọi là Chương Gia Cách Căn (lCanskya Gegen), người Hán thường gọi là Chương Gia Hoạt Phật. Ðây là một vị đại lạt-ma ở vùng Nội Mông, là lãnh tụ Hoàng Giáo (phái Gelugpa) ở vùng Nội Mông. Tính đến nay, Chương Gia Hô Ðồ Khắc Ðồ truyền được 19 đời. Người Mông Cổ tin Chương Gia đại sư là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù. Pháp Sư Tịnh Không học pháp với ngài Chương Gia đời 19 là Yeshe rDorje (Tàu phiên âm là Lịch Nghinh Diệp Tích Ðạo Nhĩ Tế), còn gọi là Sans-rGyas-sKyabs (Tang Kết Trát Bố), dịch nghĩa là Thiện Huệ Cát Tường. Vị này chuyển sanh ở vùng Tangut năm 1891. Ðại Sư từng làm ủy viên Hội Ủy Viên Mông Tạng, Mông Kỳ Tuyên Hóa Sứ, hội trưởng hội Phật Giáo Trung Quốc thời Dân Quốc, cố vấn phủ Tổng Thống. Sau Sư qua Ðài Loan. Sư từng tham gia hội nghị Phật Giáo Thế Giới ở Nhật và thỉnh được đảnh cốt của ngài Huyền Trang từ Nhật về, xây tháp thờ ở Nhật Nguyệt Ðàm, thành phố Nam Ðầu, Ðài Loan. Năm 1957, sư thị tịch ở Ðài Bắc, thọ 68 tuổi. Không rõ ai là người chuyển sanh kế tiếp.
Người ghi: Liên Hương
 

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây